Cung cấp thông tin giúp các bệnh nhân có những lựa chọn chính xác. Tuy nhiên khi nào thông tin bị quá tải? Bác sĩ sẽ cân nhắc lợi và hạị.

Câu chuyện của cô ấy không khác nhiều so với những bệnh nhân ung thư vú khác. Trong khi tắm, Lenny phát hiện một cục u dưới nách phải. Không do dự, cô bay từ Indonesia để gặp bác sĩ phẫu thuật vú hàng đầu tại Singapore.

Sau khi kiểm tra, bác sĩ tiến hành sinh thiết cả hai khối u trong vú cũng như hạch phì đại ở nách.

Một ngày sau, Lenny nhận tin xấu rằng cô bị ung thư vú giai đoạn 2.

Có 2 phương án để cô lựa chọn. Một là tiến hành phẫu thuật và sau đó điều trị bằng hóa chất. Hai là điều trị hóa chất trước rồi mới phẫu thuật.

Không biết nên làm thế nào, Lenny vô cùng lo lắng đến gặp tôi cùng chồng cô ấy, người đã vội vã tới Singapore để ở bên cạnh cô.

Tôi đã yêu cầu lấy mẫu sinh thiết để làm xét nghiệm thụ thể estrogen (ER), progesterone (PR) và yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER 2) và chỉ định Lenny chụp PET-CT để xác định ung thư đã di căn chưa.

Trong quá trình chụp PET-CT, bệnh nhân phải nhịn ăn trong vòng ít nhất 6 tiếng. Tuy nhiên, vẫn có thể uống nước. Trước khi chụp, bệnh nhân sẽ được tiêm một lượng đường nhỏ có gắn chất chỉ điểm phóng xạ.

Người ta biết rằng tế bào ung thư hấp thu đường. Do đó, đường có gắn phóng xạ được tiêm vào bệnh nhân sẽ đi đến các vị trí tế bào ung thư cư trú. PET-CT là một trong những phương pháp chính xác nhất để đánh giá giai đoạn ung thư do nó có thể phát hiện ung thư ngay cả khi khối u có kích thước rất nhỏ.

Đối với trường hợp của Lenny, tin tốt là ung thư chỉ khu trú ở khối u bên vú phải và hạch dưới nách phải. Không thấy dấu hiệu ung thư di căn sang các bộ phận khác của cơ thể.

Khối u vú có kích thước 1.8cm với giá trị hấp thu chuẩn tối đa (SUVmax) là 7 và hạch bạch huyết có kích thước 1.8cm với SUVmax là 11. Đây là tác dụng khác của chụp PET-CT. Bên cạnh việc xác định vị trí của ung thư, giá trị hấp thu chuẩn tối đa SUVmax cung cấp số liệu định lượng về mức độ hoạt động của ung thư.

SUVmax lớn hơn 2.5 được cho là bất thường và thường liên quan đến ung thư và/hoặc nhiễm trùng.

Khối u của Lenny âm tính với ER, PR và HER 2, nghĩa là cô ấy mắc ung thư vú 3 âm tính.

Các bệnh nhân ung thư vú dương tính với ER hoặc/và PR có thể điều trị nội tiết. Các bệnh nhân ung thư vú dương tính với HER 2 có thể điều trị bằng kháng thể đơn dòng kháng HER 2.

Trong trường hợp ung thư vú 3 âm tính, hai phương pháp trên đều không khả thi. Do đó, hóa trị vẫn là phương pháp điều trị cơ bản để tiêu diệt các tế bào ung thư.

Với những thông tin đó, tôi đã giải thích cho Lenny và chồng cô ấy tại sao tôi ưu tiên dùng hóa trị trước.

Lý do đầu tiên là ung thư vú ba âm tính được coi là loại ung thư có độ ác tính cao nhất trong ba loại (hai loại còn lại là ung thư vú dương tính với ER/PR và dương tính với HER2).

Thứ hai, Lenny chắc chắn sẽ cần hóa trị sau phẫu thuật ngay cả khi đã phẫu thuật trước. Cả hai tình trạng của cô là ung thư vú 3 âm tính cũng như ung thư vú có di căn hạch thì cần phải hóa trị.

Lợi ích lớn nhất của việc hóa trị trước là nó cho chúng ta thấy được hiệu quá của hóa chất. Khi hóa trị sau phẫu thuật, sẽ không có cách nào xác định được liệu thuốc có hiệu quả hay không bởi khối u đã được cắt bỏ.

Sau khi nghe tôi giải thích, Lenny ngồi một lát, suy nghĩ về điều đó. Với tôi, xem xét tình trạng bệnh của cô ấy, cân nhắc các lựa chọn và rủi ro chỉ cần vài phút bởi tôi đã được đào tạo và có nhiều năm kinh nghiệm điều trị cho các bệnh nhân tương tự.

Nhưng với Lenny, thật không dễ để tiếp nhận hàng loạt thông tin, để hiểu về hai lựa chọn cũng như một loạt lý do tại sao tôi ưu tiên hóa trị trước.

Khi ai đó được chẩn đoán ung thư, rất khó có thể hiểu toàn bộ lợi ích của lựa chọn này so với lựa chọn kia. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn là người phải lựa chọn. Phải nhớ rằng việc đưa ra quyết định thường phải ngay sau khi phát hiện mình mắc căn bệnh đe dọa đến tính mạng như bệnh ung thư.

Do đó, khi có quá nhiều thông tin, họ thường không thể quyết định nên làm gì bởi họ sợ sẽ lựa chọn sai hoặc lựa chọn sai do không đủ hiểu về lợi ích và tác hại của các phương pháp điều trị.

Tuy nhiên, để chắc chắn bệnh nhân có lựa chọn chính xác, các bác sĩ thường đưa ra nhiều thông tin, thay vì đưa ra quá ít.

Cuối cùng, Lenny và chồng quyết định hóa trị trước.

Cô được điều trị kết hợp hai loại thuốc – paclitaxel (Taxol) và carboplatin (Paraplatin). Paclitaxel được truyền hàng tuần trong vòng 12 tuần, trong khi carboplatin truyền 3 tuần 1 lần.

Lenny không gặp phải tác dụng phụ gì đáng kể ngoại trừ rụng tóc. Với các thuốc chống nôn hiệu quả như ondansetron (Zofran), dexamethasone, và netupitant/palonosetron (Akynzeo), bệnh nhân không bị buồn nôn hay nôn.

Sau 12 tuần điều trị, kết quả chụp PET-CT cho thấy nốt ở vú đã “biến mất” và hạch cũng cho thấy “kích thước và chuyển hóa đã giảm giữa hai lần chụp”.

Sau khi nghe tin tốt, Lenny tiến hành phẫu thuật khoét rộng và cắt bỏ hạch gác cửa. Kết quả giải phẫu bệnh cuối cùng âm tính với ung thư ở cả hai mẫu bệnh phẩm vú và hạch.

Mặc dù mắc phải loại ung thư vú có độ ác tính cao nhưng Lenny đã đáp ứng hoàn toàn (pCR), nghĩa là các khối u đã được loại bỏ hoàn toàn bằng hóa trị.

Tầm quan trọng để đạt được pCR đã được xác định rõ trong tài liệu y khoa. Đối với bệnh nhân ung thư vú 3 âm tính, tỉ lệ không tái phát trong ba năm là 93% đối với những người đạt được pCR và 67% đối với những người không đạt được pCR.

Đối với Lenny, đạt được pCR nghĩa là cơ hội chữa khỏi ung thư vú rất cao.

Written by Bác sĩ Ang Peng Tiam



Tags: các khối u, các loại thuốc điều trị ung thư, câu chuyện của bác sĩ chuyên khoa ung thư, sưng hạch bạch huyết, ung bướu, ung thư vú, điều trị ung thư ở nước ngoài