AML là một loại ung thư máu và tuỷ xương và cũng là loại bệnh bạch cầu cấp tính phổ biến nhất ở người lớn. Nó gây ra sự sản sinh quá mức của các nguyên bào tủy bất thường (một loại tế bào bạch cầu), làm tắc nghẽn tủy xương và ngăn chặn sản xuất các tế bào máu bình thường. Điều này dẫn tới thiếu hụt tế bào hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu lưu thông trong cơ thể.

AML còn có thể gọi là bệnh bạch cầu cấp tính dòng tủy, bệnh bạch cầu tuỷ bào cấp tính, bệnh bạch cầu hạt cấp tính, hay bệnh bạch cầu không lympho cấp tính.

Nguyên nhân gây bệnh là gì?

AML có thể được gây ra do tổn thương gen kiểm soát phát triển tế bào máu. Một số yếu tố rủi ro đối với AML đã được xác định:

  • Giới tính – AML xảy ra thường xuyên hơn ở nam so với nữ.
  • Rối loạn bẩm sinh – Những người mắc một số rối loạn bẩm sinh, như Hội chứng Down và thiếu máu Fanconi, có thể có nguy cơ mắc AML cao hơn và với những người này AML có xu hướng phát triển khi còn nhỏ hoặc thời niên thiếu.
  • Rối loạn máu đã có từ trước – Một vài rối loạn nhất định, chẳng hạn như Hội chứng loạn sinh tuỷ (MDS), xơ hoá tuỷ xương và suy tuỷ xương, có thể làm tăng khả năng phát triển AML.
  • Điều trị ung thư – Một số loại thuốc hóa trị hoặc xạ trị có thể làm tăng khả năng phát triển AML.
  • Tiếp xúc với hoá chất – Tiếp xúc lâu dài với các loại hoá chất công nghiệp như benzene, một số sản phẩm làm sạch, chất tẩy rửa và chất tẩy sơn, cũng như khói thuốc lá, có thể làm tăng khả năng phát triển AML.

Triệu chứng

AML phát triển nhanh chóng, do đó bệnh nhân chỉ có thể thấy các triệu chứng trong vài ngày đến vài tuần trước khi được chẩn đoán. Một số bệnh nhân không có triệu chứng gì cả. Các triệu chứng chính là do không có đủ tế bào máu bình thường trong cơ thể. Các triệu chứng phổ biến của AML là:

  • Mệt mỏi
  • Sốt
  • Da nhợt nhạt
  • Khó thở
  • Ăn không ngon
  • Sụt cân
  • Đổ mồ hôi đêm hoặc đổ mồ hôi quá nhiều
  • Chảy máu nướu răng hoặc chảy máu cam
  • Dễ bị bầm tím
  • Đốm đỏ hoặc tím trên da
  • Đau xương khớp

Chẩn đoán & Đánh giá

Nếu nghi ngờ là AML, khám lâm sàng, xét nghiệm máu và sinh thiết tủy xương sẽ giúp đưa ra chẩn đoán.

Khi khám lâm sàng, bác sĩ sẽ kiểm tra liệu gan, lá lách và các hạch bạch huyết có bị sưng, tìm kiếm chảy máu bất thường hoặc bầm tím, và dấu hiệu nhiễm trùng.

Xét nghiệm máu, được gọi là công thức máu tổng quát, nghĩa là một mẫu máu được gửi đến phòng thí nghiệm để kiểm tra. Mẫu máu sẽ được kiểm tra số lượng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Tỷ lệ bạch cầu cao có thể là dấu hiệu của AML.

Sinh thiết tủy xương là lấy một mẫu tủy xương, thường là từ xương hông. Thủ thuật này được thực hiện có gây tê cục bộ và mất 15 – 20 phút. Mẫu cũng sẽ được gửi đến phòng xét nghiệm để tiến hành kiểm tra, tìm kiếm các tế bào ung thư.

Các xét nghiệm khác có thể được thực hiện để xác định phạm vi của AML và giúp đưa ra các lựa chọn điều trị tốt nhất. Một số các xét nghiệm phải chọc cột sống thắt lưng (hay chọc dò tuỷ sống), xét nghiệm gen và chẩn đoán hình ảnh (X-quang, chụp chiếu và siêu âm tim).

Giai đoạn bệnh

Đối với hầu hết các bệnh ung thư, xác định giai đoạn bệnh ung thư giúp đưa ra lựa chọn điều trị. Tuy nhiên, bệnh bạch cầu tủy cấp tính khởi phát từ tuỷ xương và thường chỉ được phát hiện sau khi đã lan sang các cơ quan khác. Thay vì sử dụng cách xác định giai đoạn ung thư truyền thống, AML được phân loại dựa trên hệ thống tế bào.

Phân loại Pháp-Mỹ-Anh (FAB) chia AML thành tám phân nhóm dựa trên số lượng tế bào máu khỏe mạnh, kích thước và số lượng tế bào ung thư bạch cầu, thay đổi nhiễm sắc thể trong các tế bào ung thư bạch cầu và các bất thường di truyền khác:

  • M0 – Bạch cầu cấp dòng tủy không biệt hoá
  • M1 – Bạch cầu cấp dòng tủy trưởng thành tối thiểu
  • M2 – Bạch cầu cấp dòng tủy trưởng thành
  • M3 – Bạch cầu cấp tiền tuỷ bào
  • M4 – Bạch cầu cấp dòng tủy và dòng mono
  • M4 eos – Bạch cầu cấp dòng tủy và dòng mono tăng bạch cầu ái toan
  • M5 – Bạch cầu cấp dòng mono
  • M6 – Bạch cầu cấp dòng hồng cầu
  • M7 – Bạch cầu cấp dòng mẫu tiểu cầu
Cách phân loại mới hơn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chia AML thành các nhóm lớn:

  • AML với những bất thường di truyền nhất định
  • AML với các thay đổi liên quan đến rối loạn sinh tuỷ
  • AML liên quan đến hóa trị và xạ trị trước đó
  • AML không đặc hiệu
  • Sarcoma tủy
  • Tăng sinh tủy liên quan đến Hội chứng Down
  • Bạch cầu cấp không biệt hoá và lưỡng cực – Đây không phải là AML, nhưng là bệnh bạch cầu có cả hai đặc điểm lympho và tủy. Chúng đôi khi được gọi là bạch cầu hỗn hợp (MPALs).

Phân tích di truyềne

Phân tích di truyền và đột biến AML rất quan trọng trong việc lập kế hoạch điều trị và đánh giá liệu bệnh nhân có được hưởng lợi từ việc điều trị đích hay không. Một trong những đột biến thường được kiểm tra là FMS – tyrosine kinase 3 (FLT-3). Thuốc ức chế FLT-3 là mục tiêu đầy hứa hẹn, thường được sử dụng kết hợp với hóa trị để tăng kết quả điều trị cho bệnh nhân.

Phân tích di truyền cũng có thể dự đoán liệu một bệnh nhân cần điều trị củng cố bằng ghép tủy xương hay có thể được điều trị bằng hóa trị liệu đơn thuần.

Điều trị

Mục tiêu của điều trị AML là làm thuyên giảm bệnh ung thư và đảm bảo bệnh không tiến triển. Có hai giai đoạn điều trị AML: điều trị thoái lui và điều trị sau thoái lui.

Điều trị thoái lui

Hóa trị được sử dụng để tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể. Các loại thuốc chống ung thư cũng có thể được dùng cho một phân nhóm AML có tên Bạch cầu cấp tiền tuỷ bào (APL).

Nếu hóa trị thành công, tủy xương sẽ bắt đầu tạo ra các tế bào máu khỏe mạnh trở lại.

Trị liệu sau thoái lui

Hóa trị tiếp theo có thể được áp dụng để ngăn chặn các tế bào ung thư quay trở lại.

Ghép tế bào gốc có thể được thực hiện để giúp cơ thể tái tạo các tế bào tủy xương bình thường. Các tế bào gốc có thể đến từ người hiến, thường là thành viên gia đình hoặc những người tự nguyện hiến tế bào gốc.

Liệu pháp xạ trị cũng có thể được sử dụng, trong đó tia X năng lượng cao được sử dụng để tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể. Liệu pháp xạ trị bên ngoài với máy xạ bên ngoài, trong khi xạ trị bên trong là dùng kim tiêm hoặc đặt ống thông đưa trực tiếp chất phóng xạ vào hoặc gần vị ví ung thư.

Trong liệu pháp đích, thuốc hoặc các chất khác nhắm vào các tế bào ung thư để phá hủy hoặc ngăn chặn sự phát triển của chúng, trong khi không gây hại cho các tế bào bình thường. Các thử nghiệm lâm sàng vẫn đang tiếp tục cho các liệu pháp đích khác nhau.

Khi AML được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, có khả năng thuyên giảm cao. Một bệnh nhân được coi là đã thuyên giảm khi không còn bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng nào của AML, và được coi là chữa khỏi sau năm năm thuyên giảm.

Phòng ngừa

Mặc dù không có cách nào để ngăn ngừa bệnh bạch cầu tủy cấp tính, nhưng những cách sau đây có thể làm giảm nguy cơ phát triển căn bệnh này:

  • Không hút thuốc
  • Tránh hoặc hạn chế tiếp xúc với các hoá chất công nghiệp như benzen, chẳng hạn như mặc đồ bảo hộ.
  • Tránh hoặc hạn chế tiếp xúc bức xạ bằng cách mặc đồ bảo hộ.
  • Tránh điều trị ung thư bằng thuốc phóng xạ và hoá trị có khả năng làm tăng nguy cơ mắc bạch cầu tủy cấp tính ở người lớn. Tuy nhiên, một số người có thể cần các loại thuốc cụ thể để điều trị.

Có Những Loại Hình Hỗ Trợ Nào?

CanHOPE là một dịch vụ hỗ trợ và tư vấn ung thư phi lợi nhuận do Trung tâm Ung thư Parkway, Singapore cung cấp. CanHOPE bao gồm một đội ngũ hỗ trợ chăm sóc, hiểu biết và có kinh nghiệm cùng với sự tiếp cận các thông tin toàn diện về một loạt các chủ đềvề giáo dục và các hướng dẫn trong điều trị ung thư.

CanHOPE cung cấp:

  • Các thông tin ung thư cập nhật cho bệnh nhân bao gồm các cách để ngăn ngừa ung thư, các triệu chứng, nguy cơ, xét nghiệm kiểm tra, chẩn đoán, các phương pháp điều trị và nghiên cứu hiện tại.
  • Giới thiệu tới các dịch vụ liên quan đến ung thư, chẳng hạn như các cơ sở xét nghiệm và kiểm tra, các trung tâm điều trị và tư vấn bác sĩ phù hợp.
  • Lời khuyên và tư vấn ung thư về chiến lược kiểm soát các tác dụng phụ trong quá trình điều trị, đối mặt với bệnh ung thư, chế độ ăn uống và dinh dưỡng.
  • Hỗ trợ tâm lý và tinh thần cho những người bị bệnh ung thư và những người chăm sóc họ..
  • Các hoạt động hỗ trợ nhóm, tập trung vào kiến thức, kỹ năng và các hoạt động hỗ trợ để giáo dục và nâng cao nhận thức cho bệnh nhân và những người chăm sóc.
  • Các nguồn lực cho các dịch vụ hỗ trợ và phục hồi chức năng/li>
  • Các dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ để cải thiện chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến triển.

Đội ngũ CanHOPE sẽ đồng hành cùng với bệnh nhân để hỗ trợ và chăm sóc cá nhân, vì họ đang cố gắng chia sẻ một chút hy vọng với tất cả những người mắc bệnh.